HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU LÀ GÌ ?

HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU LÀ GÌ ?

 

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hợp đồng có thể vô hiệu toàn bộ hoặc chỉ bị vô hiệu một phần. Để có thể hiểu rõ hơn về các loại hợp đồng dân sự, bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết hơn như sau:

* Hợp đồng dân sự vô hiệu toàn bộ

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội: nội dung, mục đích của hợp đồng vi phạm những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định và những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo: Khi các bên xác lập hợp đồng dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác lập hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì hợp đồng đó vô hiệu.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện. Để hợp đồng có thể vô hiệu trong trường hợp này, người đại diện của người xác lập giao dịch phải yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, một số hợp đồng do những người trên xác lập và thực hiện nhưng không bị vô hiệu, bao gồm:

+ Hợp đồng dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

+ Hợp đồng dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

+ Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

- Hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn: một hoặc các bên không thực hiện được mục đích của việc ký hợp đồng thì có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Trường hợp không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý. Trường hợp mục đích xác lập hợp đồng của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập hợp đồng vẫn đạt được thì không có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép:

+ Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

+ Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Như vậy, khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình: Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Trường hợp pháp luật bắt buộc hợp đồng phải thể hiện bằng hình thức nhất định thì khi xác lập hợp đồng, các bên phải tuân quy định đó. Tuy nhiên, một số trường hợp ngoại lệ hợp đồng không tuân thủ quy định về hình thức nhưng vẫn có giá trị pháp lý, bao gồm:

+ Hợp đồng đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

+ Hợp đồng đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thực hiện được ngay từ khi giao kết. Nếu một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.

* Hợp đồng dân sự vô hiệu từng phần

Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.

Theo quy định của pháp luật, hợp đồng dân sự vô hiệu kéo theo những hậu quả pháp lý như sau:

+ Hợp đồng dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm hợp đồng được xác lập.

+ Khi hợp đồng dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

+ Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

+ Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Với mỗi trường hợp vô hiệu của hợp đồng, pháp luật lại quy định thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu khác nhau, cụ thể như sau:

+ Hợp đồng dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì thời hiệu là 02 năm kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

+ Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn thì thời hiệu là 02 năm kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

+ Hợp đồng dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép thì thời hiệu là 02 năm kể từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

+ Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì thời hiệu là 02 năm kể từ ngày người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

+ Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức thì thời hiệu là 02 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập.

+ Đối với hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội và hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.