HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ?

HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ?

 

Để hợp đồng dân sự có hiệu lực pháp lý, bắt buộc các bên phải thi hành các điều khoản theo thỏa thuận cần đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, có bốn điều kiện để hợp đồng dân sự có hiệu lực gồm: điều kiện về chủ thể, về ý chí, về nội dung và hình thức của hợp đồng. Các điều kiện này được cụ thể hóa như sau:

  • Điều kiện về chủ thể của hợp đồng:

Các chủ thể tham gia hợp đồng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân hoặc các loại chủ thể khác.

- Đối với cá nhân: Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia vào hợp đồng phải từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

+ Người chưa thành niên từ đủ 06 tuổi đến dưới 18 tuổi là người có một phần năng lực hành vi dân sự thì việc xác lập, thực hiện hợp đồng của họ phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.

+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

+ Người dưới 6 tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự và mọi giao dịch liên quan tới người này đều phải được xác lập, thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp.

+ Người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì các giao dịch liên quan đến tài sản của họ phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu hàng ngày.

- Đối với pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác:

+ Pháp nhân: Các pháp nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, có năng lực chủ thể mang tính chuyên biệt, được tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch phù hợp với mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân. Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân được thể hiện trong điều lệ, hoặc quyết định thành lập pháp nhân.

+ Hộ gia đình, tổ hợp tác: Hộ gia đình và tổ hợp tác tham gia các giao dịch phù hợp với phạm vi hoạt động của mình.

Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng mà chủ thể đó tham gia. Pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng phạm vi đại diện và phải phù hợp với giới hạn về lĩnh vực hoạt động của các chủ thể. 

  • Điều kiện về ý chí:

Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện tức là xuất phát từ ý chí thực, từ sự tự do ý chí của các bên trong các thỏa thuận hợp đồng đó. Sự ép buộc, giả dối sẽ làm vô hiệu hợp đồng khi ký kết.

  • Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng:

Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đối tượng của hợp đồng không thuộc hàng hóa cấm giao dịch, công việc cấm thực hiện. Bên cạnh đó, nội dung của hợp đồng cần phải cụ thể, những nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thể thực hiện được thì hợp đồng cũng không được coi là có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ.

  • Điều kiện về hình thức của hợp đồng:

Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định. Theo đó:

- Hợp đồng được xác lập bằng lời nói:

Khi giao kết hợp đồng bằng lời nói, các bên chỉ cần thoả thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện những hành vi nhất định đối với nhau. Đây là hình thức thể hiện hợp đồng có độ chính xác thấp nhất khi ở đây các bên các bên chỉ dùng lời nói để xác lập các thỏa thuận mà không có một bằng chứng cụ thể nào có thể xác nhận được các thỏa thuận của họ. Hình thức này thường được áp dụng trong những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng mà ngay sau khi giao kết sẽ được thực hiện và chấm dứt.

- Hợp đồng xác lập bằng văn bản:

Là hình thức thể hiện hợp đồng mang tính pháp lý và chính xác cao. Các bên tham gia hợp đồng cùng nhau ký kết xác lập một hợp đồng bằng văn bản, trong đó ghi đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận. Nhất thiết trong văn bản cần có đủ chữ kí của tất cả các bên, mỗi bên tham gia hợp đồng sẽ được giữ một bản.

Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của nó là những tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát khi chúng được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật (Ví dụ: Hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho quyền sử dụng đất….). Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có giá trị chứng cứ cao nhất. Vì vậy, đối với những hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm, các bên vẫn có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng.

- Hợp đồng xác lập bằng hành vi cụ thể: khi chủ thể thực hiện một hành vi hay một vài hành vi thì coi như hợp đồng đã được thỏa thuận và thực hiện.

Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Như vậy, các bên chủ thể có quyền thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vào bất kỳ thời điểm nào. Đến thời điểm do các bên ấn định, hợp đồng phát sinh hiệu lực pháp lý đối với các bên. Tuy nhiên, một số trường hợp, pháp luật ấn định một mốc sự kiện làm thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Ví dụ: Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng/chứng thực; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm…