AI LÀ NGƯỜI CÓ QUYỀN QUẢN LÝ DI SẢN THỪA KẾ ?

AI LÀ NGƯỜI CÓ QUYỀN QUẢN LÝ DI SẢN THỪA KẾ ?

Sau khi người để lại di sản qua đời, tạm thời tài sản không còn người sở hữu do người thừa kế chưa xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cụ thể trong khối di sản. Mặt khác, thông thường việc chia di sản không tiến hành ngay khi người để lại di sản chết, mà khối di sản cần phải được quản lý, bảo quản, tránh mất mát, hư hỏng, thất thoát. Chính vì vậy, pháp luật đã dành riêng một chế định về người quản lý di sản của người để lại di sản nhằm thực hiện quản lý di sản trước khi việc phân chia di sản được tiến hành. Như vậy, người quản lý di sản là người có quyền nắm giữ quản lý tài sản của người chết để lại trong thời gian di sản chưa được chia cho những người thừa kế.

Theo quy định tại điều Điều 638 BLDS 2015, Người quản lý di sản là:

+ Người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra.

+ Trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

+ Trong trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.

Người quản lý di sản có các quyền và nghĩa vụ được quy định cụ thể tại Điều 639 và Điều 640 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó:

- Nghĩa vụ của người quản lý di sản:

+ Trường hợp người quản lý là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra hoặc người quản lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý phân công có các nghĩa vụ sau đây:

  • Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
  • Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
  • Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
  • Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
  • Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.

+ Trường hợp người quản lý trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản có các nghĩa vụ sau đây:

  • Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác;
  • Thông báo về di sản cho những người thừa kế;
  • Bồi thường thiệt hại, nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
  • Giao lại di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc theo yêu cầu của người thừa kế.

- Quyền của người quản lý di sản:

+ Người quản lý là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra hoặc người quản lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý phân công có các quyền sau đây:

  • Đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế;
  • Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế.

+ Người quản lý trong trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản có các quyền sau đây:

  • Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế;

Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế. Trường hợp không đạt được thỏa thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý.