CÁC HÌNH THỨC LẬP DI CHÚC VÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO THEO PHÁP LUẬT HIỆN NAY

CÁC HÌNH THỨC LẬP DI CHÚC VÀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO THEO PHÁP LUẬT HIỆN NAY

 

* Các hình thức lập di chúc:

Hình thức di chúc là sự thể hiện ý chí của người để lại tài sản ra bên ngoài thế giới khách quan, là sự chứa đựng nội dung của di chúc theo một trình tự kết cấu nhất định. Pháp luật hiện hành quy định có hai hình thức lập di chúc là: di chúc miệng và di chúc bằng văn bản. Mỗi hình thức của di chúc khi xác lập phải đáp ứng các điều kiện nhất định, cụ thể:

- Lập di chúc miệng:

Di chúc là việc thể hiện ý nguyện của người còn sống về việc định đoạt tài sản của mình sau khi đã qua đời. Di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Theo đó, Điều 629 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa mang trọng bệnh, tai nạn hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Tuy nhiên, người lập di chúc miệng vẫn phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép. Đồng thời, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Như vậy, thủ tục lập di chúc miệng như sau:

+ Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí trước mặt ít nhất 02 người làm chứng (người làm chứng không được là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi).

+ Người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ vào văn bản ghi chép.

+ Xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng trong văn bản ghi chép ý chí của người lập di chúc miệng tại tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng, Văn phòng công chứng) hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã.

- Lập di chúc bằng văn bản:

Theo quy định tại Điều 628 Bộ luật dân sự năm 2015, di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Mỗi loại di chúc sẽ được lập theo trình tự, thủ tục và điều kiện khác nhau. Theo đó, thủ tục lập đối với từng loại di chúc được quy định như sau:

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng:

Khi lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. Nội dung của di chúc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật tại Điều 631 Bộ luật Dân sự  năm 2015 gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Ngày, tháng, năm lập di chúc

+ Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc

+ Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

+ Di sản để lại và nơi có di sản.

+ Ngoài các nội dung trên di chúc có thể có các nội dung khác.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.

Như vậy, trường hợp người lập di chúc bằng văn bản do người đó tự tay viết và ký vào di chúc thì không cần có người làm chứng. Tuy nhiên, để đảm bảo tính pháp lý cao và tránh sự tranh chấp thì trường hợp này người lập di chúc có thể mời người làm chứng và xác nhận vào di chúc.

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng:

Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự năm 2015, nếu người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Nội dung của di chúc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật và bao gồm các nội dung chính sau:

+ Ngày, tháng, năm lập di chúc

+ Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc

+ Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

+ Di sản để lại và nơi có di sản.

+ Ngoài các nội dung trên di chúc có thể có các nội dung khác.

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau:

+ Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

+ Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

+ Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

+ Di chúc có công chứng hoặc chứng thực:

Theo quy định tại Điều 635 và Điều 636 Bộ luật dân sự năm 2015, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc.

Theo đó, người lập di chúc tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã theo thủ tục sau:

+ Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã.

+ Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố.

+ Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình.

+ Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã ký vào bản di chúc.

Nếu người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng.

- Các giấy tờ cần chuẩn bị khi công chứng di chúc:

+ Chứng minh nhân dân/ Hộ chiếu của người lập di chúc và người hưởng di sản;

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất;

+ Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản nếu tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu: đăng ký xe ô tô, xe máy; sổ tiết kiệm...

* Điều kiện có hiệu lực của di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Tuy vậy, không phải mọi di chúc đều có hiệu lực phát luật. Theo đó, khi lập di chúc cần chú ý các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Theo đó, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về điều kiện lập di chúc như sau:

- Về người lập di chúc: Người lập di chúc là người từ đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Sự đồng ý ở đây là sự đồng ý cho họ lập di chúc, còn về nội dung di chúc do chính người chưa thành niên đó quyết định.

- Về ý chí của người lập di chúc: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép. Đây là điều kiện có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá di chúc có giá trị pháp lý hay không.

- Điều kiện về nội dung của di chúc: Nội dung của di chúc chứa đựng toàn bộ những quyết định của người để lại di sản trong việc định đoạt sản của người lập di chúc sau khi chết. Di chúc là một giao dịch dân sụ, do vậy, di chúc cũng cần tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong đó có điều kiện về nội dung của di chúc. Cụ thể, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

- Điều kiện về hình thức của di chúc:

Về mặt hình thức, di chúc được thể hiện dưới một trong hai hình thức bao gồm: di chúc bằng văn bản và di chúc miệng. Bộ luật dân sự 2015 có quy định riêng về hình thức với di chúc của từng đối tượng lập di chúc đặc thù như sau:

+ Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

+ Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

+ Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Như vậy, đối với từng đối tượng và trường hợp cụ thể mà người lập di chúc cần lưu ý các điều kiện về hình thức để di chúc mình lập ra có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015, thời điểm di chúc có hiệu lực là thời điểm mở thừa kế (thời điểm người có tài sản chết hoặc ngày Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết). Đồng thời, di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

+ Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

+ Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

+ Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

+ Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

+ Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Quý khách hàng có nhu cầu tìm kiếm mẫu di chúc, vui lòng tham khảo: Mẫu di chúc (01.TK)