QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH, ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH ?

QUYỀN CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH, ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ, BÍ MẬT CÁ NHÂN, BÍ MẬT GIA ĐÌNH ?

 

Căn cứ theo Điều 31 Bộ Luật Dân sự 2015 quyền cá nhân đối với hình ảnh đã được ghi nhận và bảo vệ, cụ thể: cá nhân có quyền đối với hình anh của mình”. Từ quy định trên có thể hiểu quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được người đó sồng ý, đồng thời quyền của cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

 Quyền của cá nhân đối với hình ảnh có những đặc điểm sau:

+ Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân theo đó cá nhân được phép sử dụng của mình, việc sửu dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

+ Quyền nhân thân đối với hình ảnh là quyền nhân thân không gắn với tài sản, đặc tính này để phân biệt với quyền nhân thân gắn với tài sản như: Quyền đứng tên tác giả, quyền đặt tên cho tác phẩm.

+ Quyền của cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

- Quyền bí mật về đời sồng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình: Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền về đời sổng riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình để nhằm bảo đảm cho quyền tự do của mỗi cá nhân đều được tôn trọng và được bảo vệ theo quy định của luật, theo đó:

+ Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

+ Thư tín, điện thoại, điện tien, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.

* Nguyên tắc thực hiện quyền của cá nhân:

- Quyền của cá nhân đối với hình ảnh:

+ Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý;

+ Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

- Quyền của cá nhân đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình:

+ Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.

+ Việc Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định.

+ Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 32 Bộ luật dân sự 2015 quy định các trường hợp hình ảnh mà không cần sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ như sau:

+ Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

+ Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nhgij, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

* Nguyên tắc xử lý hành vi xâm phạm quyền của cá nhân:

Bộ luật Dân sự 2015 quy định quy tín, danh sự, nhân phẩm của công dân được pháp luật bảo vệ. Người bị đưa tin sai sự thật ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, hoặc thiệt hại khác có thể yêu cầu bồi thường hoặc khởi kiện theo quy định pháp luật để yêu cầu bồi thường.

Cụ thể, người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1, Điều 592, Bộ luật Dân sự 2015 và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. => Bồi Thường Thiệt Hại

Còn trường hợp sử dụng hình ảnh sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác trên mạng xã hội sẽ vi phạm Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ và điểm g, khoản 3, Điều 66, Nghị định 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng về hành vi "Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật".

Nếu có căn cứ xác định hành vi đưa thông tin không đúng sự thật nêu trên nhằm mục đích vu khống bôi nhọ, xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác thì có thể xử lý tội Vu khống theo Điều 156, Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). => Tranh Tụng Hình Sự